Triệu chứng: sợ lạnh, tay chân lạnh

Triệu chứng: sợ lạnh, tay chân lạnh, đại tiện phân nhão, nát, ngũ canh tả, tiểu tiện nhiều lần. Nam giới có thể kèm di tinh, liệt dương, sắc mặt xám trắng, giọng nói trầm yếu, chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng, mạch trầm trì. Thể này hay gặp ở bệnh nhân lão suy,…

Triệu chứng: sợ lạnh, tay chân lạnh, đại tiện phân nhão, nát, ngũ canh tả, tiểu tiện nhiều lần. Nam giới có thể kèm di tinh, liệt dương, sắc mặt xám trắng, giọng nói trầm yếu, chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng, mạch trầm trì.

Thể này hay gặp ở bệnh nhân lão suy, hội chứng ruột kích thích, tâm căn suy nhược thể hưng phấn giảm…

Pháp điều trị: Ôn bổ thận dương

Bài thuốc cổ phương: Hữu quy hoàn gia giảm

Phụ tử chế             6g                          Thỏ ty tử                12g

Nhục quế               8g                          Xuyên quy             12g

Lộc giác giao         12g                        Thục địa                16g

Hoài sơn                16g                        Sơn thù                  8g

Đỗ trọng                12g                        Kỷ tử                     12g

Nếu đại tiện phân nhão, nát thường xuyên thì gia thêm Đẳng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Cam thảo…

Châm cứu: Cứu các huyệt Quan nguyên, Khí hải, Mệnh môn, Thái khê, Túc tam lý.

Thể âm hư

Thường gặp ở những người suy nhược cơ thể do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Thể phế âm hư:

Triệu chứng: miệng khô, họng khô, hay chảy máu cam, thậm chí mất tiếng, sốt âm ỉ về chiều, đạo hãn, ho khan có khi ho kèm theo ít đờm dính máu, người gầy, sắc mặt đỏ, lưỡi khô mạch tế sác.

Pháp điều trị: Tư âm dưỡng phế

Bài thuốc cổ phương: Sa sâm mạch đông thang gia giảm

Sa sâm                   16g              Mạch môn đông              12g

Ngọc trúc              12g              Tang diệp                        16g

Thiên hoa phấn      12g              Cam thảo                         6g

Nếu có sốt về chiều gia thêm Địa cốt bì, Sài hồ, Miếp giáp

Nếu ra mồ hôi nhiều (đạo hãn) gia thêm Long cốt, mẫu lệ, Ngũ vị tử

Nếu có ho ra máu gia thêm: A giao, Bách bộ, Xuyên bỗi mẫu, Bạch cập…

Thể tâm âm hư: thường gặp ở phụ nữ sau đẻ mất máu, bệnh nhân thiếu máu mạn tính

Triệu chứng: hay hồi hộp đánh trống ngực, mất ngủ, hay quên, ra mồ hôi trộm, miệng lưỡi hay có mụn nước loét, mặt ửng đỏ, lưỡi đỏ sẫm, miệng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng, lưỡi khô, ít rêu, mạch tế sác.

Pháp điều trị: Tư âm thanh hỏa, dưỡng tâm an thần

Bài thuốc cổ phương: Thiên vương bổ tâm đan gia giảm

Sinh địa                 10g              Thiên môn             10g

Huyền sâm            10g              Đẳng sâm              16g

Mạch môn             10g              Đan sâm                12g

Ngũ vị tử               6g                Viễn trí                  6g

Đương quy            12g              Cát cánh                 6g

Táo nhân               8g                Phục linh               12g

Bá tử nhân             8g

Nếu tâm âm hư làm tâm hỏa vượng lên bệnh nhân có cảm giác bất an buồn bực, miệng lưỡi sinh mụn nước hay loét có thể gia thêm: Hoàng liên, Mộc thông, Trúc diệp.

Nếu bệnh nhân có biểu hiện sốt về chiều, ra mồ hôi trộm (đạo hãn) thì điều trị như Phế âm hư.

Châm cứu: Châm bổ các huyệt Tâm du, Thần môn, Nội quan, Thiếu hải

Thể tỳ vị âm hư:

Thường hay gặp ở những bệnh nhân sau mắc các bệnh nhiễm khuẩn mạn tính

Triệu chứng: Miệng khô, môi khô, chán ăn, đại tiện táo, có khi còn nôn khan và nấc, có thể kèm theo sốt nhẹ kéo dài, chất lưỡi hơi đỏ, ít rêu, trên mặt lưỡi có thể có các vết nứt, mạch tế sác.

Pháp điều trị: Dưỡng vị, kiện tỳ, tư âm, nhuận trường.

Bài thuốc cổ phương: Ích vị thang gia giảm

Sa sâm                   12g

Sinh địa                 12g

Mạch môn             12g

Ngọc trúc              12g

Đường phèn                    20g

Gia thêm đường phèn mang ý nghĩa dưỡng vị hòa trung.

Nếu đại tiện táo bón nhiều, có thể dùng thêm mật ong để tăng nhuận tràng.

Nếu như miệng loét, nôn nấc có thể gia thêm Nhân sâm, Thạch hộc để dưỡng khí vị.

Chú ý: khi phần âm dịch của tỳ, vị bi tổn thương thì tránh dùng các thuốc ôn táo.

Châm cứu: châm bổ các huyệt Túc tam lý, Tỳ du, Thận du, Tam âm giao, Vị du, Thái khê.

Thể can âm hư

Thường gặp ở phụ nữ tiền mãn kinh, tăng huyết áp, tâm căn suy nhược và xơ vữa động mạch ở người cao tuổi.

Triệu chứng: Đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, mắt khô, sợ ánh sáng, khả năng tự kiềm chế kém, dễ cáu giận, gân gối mỏi mệt, lưỡi khô hoặc đỏ tím, mạch huyền tế sác.

Pháp điều trị: Tư dưỡng can âm, tiềm dương giáng hỏa.

Bài thuốc: “Bổ can thang” gia giảm

Thục địa                12g                        Táo nhân               8g

Xuyên khung        8g                          Mạch môn             12g

Xuyên quy            12g                        Mộc qua                12g

Bạch thược            12g                        Cam thảo               6g

Nếu đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai tương đối nặng, chân tay co duỗi khó khăn thì gia thêm: Thạch quyết minh, Cúc hoa, Câu đằng để bình can, tiềm dương.

Nếu mắt khô, nhiều rử, sợ ánh sáng, nhìn mọi vật không rõ, có thể gia thêm Kỷ tử, Nữ trinh tử, Quyết minh tử,… để dưỡng can, minh mục.

Nếu bệnh nhân tính tình hay cáu giận, nước tiểu đỏ, đại tiện táo có thể gia thêm Long đởm thảo, Hoàng cầm, Chi tử để thanh can, tả hỏa.

Châm cứu: Châm bổ các huyệt Thái xung, Can du, Đởm du, Thái khê, Khâu khư.

Thể thận âm hư

Thường gặp ở những bệnh nhân bị tâm căn suy nhược, tăng huyết áp, rối loạn chất tạo keo (Lupus ban đỏ, xơ cứng bì) và thời kỳ hội phục của các bệnh nhiễm khuẩn.

Triệu chứng: đau mỏi lưng, đau đầu, khô họng, gò má đỏ, ù tai, nghe kém, lòng bàn tay bàn chân nóng, hay ra mồ hôi trộm (đạo hãn), đau nhức có cảm giác nóng trong ngực (Cốt trưng), hai chân yếu mỏi, nam giới có thể di tinh, chất lưỡi đỏ khô, mạch trầm tế.

Pháp điều trị: bổ thận, phù nguyên, tư âm, giáng hỏa.

Bài thuốc cổ phương: Lục vị hoàn gia vị

Thục địa                16g              Đan bì                              12g

Hoài sơn                12g              Trạch tả                 8g

Sơn thủ                  12g              Phục linh               10g

Gia thêm Địa cốt bì, Ngũ vị tử…

          Dùng dưới dạng thuốc sắc, ngày uống một thang.

Châu cứu: Châm bổ các huyệt Thần du, Cao hoang, Tam âm giao, Quan nguyên, Nội quan, Thần môn.

          Trong thực tiễn lâm sàng, tình trạng suy nhược cơ thể có thể quy nạp vào 4 chứng trạng trên trong Y học cổ truyền. Nhìn chung những bệnh chứng diễn biến ngắn, đa phần làm tổn thương tới khí, huyết. Có thể thấy chứng khí hư, huyết hư hoặc khí huyết đều hư. Nếu loại bệnh chứng diễn biến tương đối dài, bệnh tình tương đối nặng, thì đa phần tổn thương tới âm dương, có thể thấy trên lâm sàng bệnh chứng âm hư, dương hư hoặc âm dương đều hư.


Bài viết mới nhất:

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *